Mực nước ngầm khu vực TPHCM mỗi năm sụp từ 2 – 3m khiến cho tình trạng xâm nhập mặn ở các tầng chứa nước ngày càng nghiêm trọng hơn.

Nước mặn đã xâm nhập đến các tầng nước ngầm ở quận 8, 5, Bình Thạnh, một phần quận 2 và phía tây Bình Chánh. Ảnh: Trần Việt Đức
Mực nước ngầm ở trạng thái cân bằng tự nhiên khi có một áp lực cân bằng giữa nước mặn và nước ngọt. Nếu tầng nước ngầm bị hạ thấp, làm mất cân bằng áp lực thì nước mặn sẽ lấn tầng chứa nước ngầm. Sự sụt giảm nước ngọt càng nhiều thì nước mặn xâm nhập càng sâu. Đó là chưa kể, mực nước ngầm tại các giếng khai thác bị hạ thấp, nếu gần biển cũng sẽ tạo xâm nhập mặn cao ở các tầng chứa nước.
Nước ngọt - Cạn kiệt và nhiễm bẩn
Theo khảo sát của trung tâm địa tin học từ năm 1997 đến nay, hoạt động khai thác nước ngầm tại TP.HCM ngày càng bùng nổ, lượng nước khai thác tăng gấp 6,5 lần trong vòng mười năm, có hướng dịch chuyển từ tầng Pleistocen (tầng 2) xuống tầng Pliocen trên (tầng 3) và Pliocen dưới (tầng 4). Trong khi đó, theo các nhà khoa học, chất lượng nước tầng 3 biến đổi phức tạp: nước mặn đến lợ gặp ở quận 8, 5, Bình Thạnh, một phần quận 2 và phía tây Bình Chánh. Còn tầng chứa nước ở khu vực đông nam Nhà Bè, Cần Giờ hoàn toàn mặn!
Số liệu phân tích chỉ rõ: sự sụt giảm mực nước ngầm tại TP.HCM đã bắt đầu từ năm 1996 và đến nay, một số khu vực có tốc độ sụt giảm từ 2 – 3m/năm. Điều này khiến thành phố đã có sự xâm nhập mặn ở các tầng chứa nước sâu hơn so với những năm trước đây!
Theo TS Nguyễn Văn Ngà, phòng quản lý tài nguyên nước, sở Tài nguyên và môi trường TP.HCM, hiện nay nguồn nước ngầm tại TP.HCM đối mặt với nhiều thách thức như: cạn kiệt, nhiễm bẩn, bị thay đổi do tác động của biến đổi khí hậu. Quan trắc cho thấy chất lượng nước ngầm TP.HCM đã có NO3- (gốc axít mạnh) cao hơn bốn lần so với quy chuẩn cho phép, ở các khu vực có địa hình cao trên 5m và ở tầng chứa nước nông; sắt (Fe) có nơi cao gấp gần 100 lần so với quy chuẩn, xuất hiện ở khu vực thấp và các tầng chứa nước sâu…
Nhiễm mặn - Báo động đỏ
Theo ông Ngà, dù lưu lượng khai thác hiện nay còn nằm trong khả năng khai thác cho phép (831.515m3/ngày), nhưng do sự khai thác tập trung với lưu lượng lớn ở phần phía tây nam thành phố, nên chúng ta đã khai thác hết trữ lượng khai thác an toàn và bắt đầu khai thác vào trữ lượng tĩnh. Điều này làm cho mực nước tầng 3 và 4 có xu hướng giảm so với cân bằng nước.
Nguyên nhân của thực trạng này là do công tác quản lý tài nguyên nước nói chung và nước ngầm chưa đáp ứng yêu cầu quản lý. Số liệu điều tra cơ bản về nước ngầm thiếu. Công tác thanh tra, kiểm tra, quy hoạch quản lý còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa gắn kết quy hoạch sử dụng nước, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất… Mặt khác, hệ thống pháp luật quản lý nguồn tài nguyên nước ngầm còn thiếu đã kéo theo nhiều hệ luỵ như ngập úng, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người.
Để hạn chế tình trạng tạo phễu hạ thấp mực nước, nhiều năm qua UBND TP.HCM cũng đã có chỉ đạo hạn chế, cấm khai thác nước dưới đất trên địa bàn 30 phường thuộc 13 quận của thành phố. Tuy nhiên, do các công trình cấp nước không đáp ứng kịp nhu cầu sử dụng nước của quá trình đô thị hoá và phát triển sản xuất, dẫn đến lượng nước ngầm vẫn bị khai thác ngày càng tăng và đến mức báo động đỏ.
Ứng dụng GIS là giải pháp khả thi trong lập bản đồ phân vùng cấm và hạn chế xây dựng mới các công trình khai thác nước dưới đất. Nó cho phép thu thập, quản lý, thống kê, tổng hợp, cung cấp nhanh thông tin liên quan các tầng chứa nước ngầm; phân tích chất lượng nước xác định thành phần bất thường gây ô nhiễm nước dưới đất; khoanh định các thành phần ô nhiễm và mức độ xâm nhập mặn làm cơ sở cho cấp phép khai thác dưới đất…
“Sau năm 2020 nước ngầm chỉ được khai thác ở các khu vực ngoại thành như: quận 9, 12, Thủ Đức và huyện Hóc Môn, Củ Chi. Đồng thời, thực hiện nhiều giải pháp cấp bách, như nâng cấp hệ thống cấp nước cho toàn TP.HCM để người dân đủ nước, không sử dụng nước ngầm…”, ông Ngà cho biết.
Theo SGTT
Viết bình luận (Để hỏi giá, vui lòng Điện thoại trực tiếp)
| < Bài trước | Bài sau > |
|---|










